Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Hồi xưa đi học, phân tích truyện ngắn là thứ mình thấy khó viết nhất. Giờ nhìn lại, thể loại này vẫn khó như vậy, nhưng vì giờ đã quá tuổi viết văn tới hơn chục năm, nên mình sẽ cố review cả vài truyện cùng lúc. Hi vọng là văn chương, sau hơn chục năm, không quá khó ngửi.

khong_co_vua__nguyen_huy_thiep

Tìm thấy quyển này cách đây vài năm, lúc đang lang thang trong mấy tiệm sách ở SG (đi mua sách tiếng Việt là chuyện mình hay làm nhất mỗi khi về nhà). Vốn ít đọc văn Việt Nam sau 1975, trừ vài quyển của Bảo Ninh, Chu Lai… nên cảm giác chung của mình là Văn thời này khá tẻ nhạt, nếu không viết về chiến tranh thì là văn tuyên truyền. Khi đất nước oằn mình đau khổ, lại còn bị đóng khung giáo điều, thì văn chương khó mà cất cánh được.

Với Nguyễn Huy Thiệp, đây là quyển đầu tiên mình đọc. Mãi tới gần đây mới đọc xong, và nói chung là rất ấn tượng. Lần tới về VN chắc sẽ tìm đọc Tướng về hưu.

Truyện ngắn nói chung là khó viết, và cũng không dễ đọc. Trong quyển này, có những truyện thực chất là tập hợp của vài truyện rất ngắn, nên mình đọc khá chậm.

Nhìn chung về nghệ thuật, mình hơi bối rối vì không biết nên đặt tác giả vào đâu. Có những truyện viết rất chắc tay, thủ pháp điêu luyện, kết cấu chắc chắn; nhưng cũng có những truyện hơi lỏng lẻo, hay thòng vào những câu triết lí đôi chút gượng gạo.

Mặc dù vậy, vẫn có thể nhận ra vài nét lớn trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp từ quyển này.

Nét lớn nhất về mặt tư tưởng có lẽ là hình tượng một con người mang trong mình hoài bão lớn, đang kiếm tìm mục đích cao cả của cuộc đời, nhưng lại bị trói buộc, bóp nghẹt bởi hiện thực tàn nhẫn, với cám dỗ đời thường, để cuối cùng mắc kẹt trong một nỗi buồn cô đơn, bất đắc chí. Do đó, văn chương Nguyễn Huy Thiệp có hơi hướng đả phá, chống đối, được thể hiện bằng cách viết rất “rát”, rất thô ráp, các nhân vật trong truyện văng tục, hành động rất “người”. Đây có thể coi là đặc điểm chung của trường phái hiện thực, nhưng hiện thực tới mức sần sùi thô ráp thì trong văn chương Việt Nam, có lẽ Nguyễn Huy Thiệp là người tiên phong. Thậm chí ông còn đặt tên cho phong cách này, gọi là “bạo động về ngôn ngữ“. Đương nhiên xu hướng “bạo động” này có thể đơn thuần được diễn giải là sự vận động nội tại của Văn học, nhưng mình tin rằng nguyên nhân sâu xa hơn là nhu cầu bày tỏ khát vọng vươn lên, hướng đến cái đẹp, cái cao cả, cái toàn mĩ, nhưng lại bị trói buộc, không chỉ bởi những bàn tay hữu hình của thể chế sau 1975, mà còn là những bàn tay vô hình khác đang phủ bóng lên xã hội đương thời. Có thể thấy điều này trong Con gái thuỷ thầnKhông có vuaNhững người thợ xẻ, v.v…

Trong cả quyển thì Con gái thuỷ thần là truyện mình thích nhất. Ở đó thấy rõ một con người mang trong mình hoài bão lớn (tìm về biển để gặp con gái thuỷ thần), nhưng phải trải qua bao nhiêu gian truân và trắc trở, với cơm áo gạo tiền và những định mệnh không ngờ. Truyện kết thúc khi mà nhân vật vẫn chưa tìm được đến biển, nhưng những sự việc xảy ra với nhân vật đều là sự gặp gỡ của nhân vật với con gái thuỷ thần, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Suy cho cùng, đạt được mục tiêu trong cuộc đời đôi khi không quan trọng bằng những nỗ lực đã bỏ ra để đạt đến mục tiêu đó.

Có lẽ phần nào ảnh hưởng bởi thần thoại Hy Lạp, mình tin rằng cuộc đời mỗi người là một chuỗi các bài kiểm tra, anh có quyền chọn khi nào thì ứng thí cho mỗi bài kiểm tra đó. Nếu không muốn ứng thí, anh có thể đi đường vòng; nhưng nếu ứng thí, không giống như trường học, những bài kiểm tra của trường đời không có đậu hay rớt, chỉ có kinh nghiệm mà anh thu được sau mỗi bài kiểm tra. Trải qua mỗi bài kiểm tra, những gì anh học được quan trọng hơn nhiều so với những gì anh đạt được. 81 kiếp nạn của Đường Tăng trong Tây Du Ký hay 12 chiến công của Heracles là những kiểu cuộc đời như thế. Cuộc đời một người không phải hay ở chỗ đạt được những gì, mà là những bài kiểm tra nào anh đã trải qua. Xét dưới góc nhìn đó, truyện Con gái thuỷ thần quả thật là một điển hình. Cuộc đời đáng sống là cuộc đời ít nhất mang trong mình một hoài bão. Việc thực hiện được bao nhiêu phần trăm hoài bão đó tuỳ vào xuất thân của mỗi người, nhưng đến cuối cùng, điều quan trọng nhất là sự vươn lên không ngừng của bản thân trong quá trình chinh phục hoài bão mà mình ấp ủ.

Đương nhiên không thể không nhắc đến Không có vuaNhững người thợ xẻ. Đây là những chuyện miêu tả rõ nhất hoàn cảnh của những gia đình nông dân đang vật lộn với cuộc sống trong xã hội đương thời. Tác giả ghi lại tỉ mỉ từng mẩu tranh luận vụn vặt, từng câu nói bỡn cợt tếu táo, nhưng từ đó người đọc rút ra rất nhiều nhận xét về cuộc sống. Không có vua vẽ nên một bức tranh gia đình với mâu thuẫn và xung đột thường thấy do cái nghèo nàn và dốt nát gây nên, nhưng trên tất cả vẫn là một tình thương đầm ấm mang đậm truyền thống dân tộc (nhưng cái này tốt hay không thì lại là chuyện khác). Những người thợ xẻ là câu chuyện về một toán thợ xẻ gỗ, vật lộn với cuộc sống trần tục, với những dục vọng mang đầy tính người, những toan tính nhỏ nhen, nhưng cũng từ chính cuộc vật lộn với đời ấy sáng lên tinh thần tư tưởng cao cả và đẹp đẽ.

Nguyễn Huy Thiệp có vẻ không hề muốn giấu diếm sự ảnh hưởng của Dostoevsky lên văn chương của mình (có hẳn một truyện là Tội ác và trừng phạt), và nhân vật của ông, trong chừng mực nào đó, tỏ ra có nhiều điểm tương đồng với các nhân vật trong Anh em nhà Karamazov, Tội ác và trừng phạt, Chàng thanh niên, v.v… những tác phẩm đã trở thành kinh điển cho trường phái hiện thực.

Mình đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cách đây vài năm. Lúc đó quan niệm về văn chương và nghệ thuật chưa được “trưởng thành” như bây giờ, nhưng khi đọc xong cảm giác đọng lại chủ yếu là một nỗi xót xa, có chút gì tan vỡ. Mình lớn lên trong văn chương tuyên truyền kiểu “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” của Phạm Tiến Duật, thành ra bức tranh tàn khốc, dữ dội của chiến tranh trong truyện thật sự để lại dư âm dữ dội. Giờ nhìn lại, văn chương sau 1975 có lẽ tất thảy đều mang âm hưởng tan vỡ, đả phá này.

Nét lớn thứ hai là cách “phiên dịch” lại lịch sử, dùng lịch sử để ẩn dụ về hoàn cảnh xã hội đương thời. Nguyễn Huy Thiệp viết truyện về cả Nguyễn Trãi, động chạm đến Nguyễn Du, Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ, v.v… nhưng cái cách mỗi nhân vật nói về xã hội của họ chẳng khác gì đang mô tả xã hội Việt Nam sau 1975. Mình không có gì nhiều để nói về mảng này. Dùng lịch sử để nói lên quan điểm của mình về xã hội, trong bối cảnh xã hội bị trói chặt về tư tưởng và kinh tế, có lẽ là cách duy nhất khả thi cho giới văn sĩ thời điểm đó.

Nét thứ ba là những truyện truyền kì, có lẽ được tổng hợp từ kinh nghiệm sống phong phú của tác giả. Đề tài này có những điểm thú vị riêng mà phải đọc mới khám phá được.

Phần cuối của bài này nói về Trương Chi. Trong truyện, Trương Chi, mỗi khi mở miệng, nếu không hát thì là văng tục, và chỉ văng tục đúng một từ “Cứt” (có lẽ vì truyện này mà tác giả được gán cho tục danh là Thiệp cứt). Đọc truyện, người đọc dễ dàng nhận ra Trương Chi là hình ảnh ẩn dụ cho một người nghệ sĩ tài ba nhưng bất đắc chí, đến mức hận đời, hận ngay cả khi chết (trích trong truyện: “Tôi biết giây phút rốt đời Trương Chi cũng vẫn sẽ văng tục. Nhưng đấy không phải là lỗi ở chàng”). Người đọc giàu trí tưởng tượng dễ dàng liên tưởng ngay đến tâm lí của văn sĩ Việt Nam sau 1975.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s